Sunday, February 24, 2008

Remove home page IE7

Theo mặc nhiên khi khởi động IE7 nó sẽ chuyển đến http://go.microsoft.com/fwlink/?LinkId=74005. Chúng ta không thể vào Internet Options để loại bỏ link mặc định. Để gở bỏ được home page mặc định hãy làm theo cách sau


Windows Registry Editor Version 5.00

[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main]
"RunOnceComplete"=dword:00000001
"RunOnceHasShown"=dword:00000001

Friday, February 22, 2008

Remote Desktop qua mặt firewall bằng port bất kỳ

Thủ thuật này rất tiện lợi cho những ai muốn remote desktop về máy tính tại nhà và qua mặt firewall. Port mặc định của Remote Desktop là 3389, để đổi port Remote Desktop bạn làm như sau:

Bước 1: Vào Start\Run gõ lệnh RegEdit

Bước 2: Theo đường dẫn sau

HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\
Control\TerminalServer\WinStations\RDP-Tcp\
PortNumber

Sau đó bấm chuột phải chọn Modify.

Bước 4: Chuyển Hexadecimal thành Decimal và nhập vào giá trị port mà bạn muốn dùng, thường thì các firewall tại một số cơ quan chỉ cho phép 80 (http).

Bước 5: Sau khi sửa lại port bạn restart máy tính. Như vậy máy đóng vai trò Server đã lắng nghe trên port mới.

Bước 6: Máy client muốn Remote vào máy Server thì cần phải chỉnh định thêm port mới, ví dụ 192.168.1.4:80

Vào cmd => netstat để kiểm tra lại port đã mở

Lưu ý nếu bạn muốn Remote Desktop qua Internet thì cần phải NAT router trước nhé

Wednesday, February 13, 2008

Cách download sách tại books.google.com

Đầu tiên vào trang này :
http://books.google.com/books?q=&btnG=Search+Books

Ví dụ mình search sách có tên là "b runnable r new runnable public void run"

Mở nó ra, copy link của nó, sau đó truy cập vào trang này : http://book.leechvideo.com/
paste link đó vào khung trống, nhấn Grag

Nó sẽ bắt mấy cái book đó, dùng Internet Download Manager chẳng hạn click phải chọn download all link with IDM

sau đó bạn chọn mấy file hình ảnh và down chúng về

Thế là bạn đã có sách của google

Tuesday, February 12, 2008

Ghost sao cho vừa 1 CD ?

Sao lưu ổ đĩa chứa hệ điều hành bằng Ghost vẫn là phương cách cơ bản và hữu hiệu nhất để bảo đảm an toàn cho máy tính. Vấn đề là nếu file Ghost tạo ra quá lớn thì phải cắt ra thành nhiều phần, lưu trên nhiều đĩa CD rất phiền phức và khó bảo quản. Vậy có cách nào để ổ đĩa chứa hệ điều hành cùng những ứng dụng quan trọng có dung lượng hơn 2 GB có thể ghost vào trọn 1 đĩa CD chỉ 670 MB? Cách giải quyết vấn đề này sẽ được nêu trong bài viết này. Ghost là phương pháp sao lưu ổ cứng rất tiện dụng, nhanh chóng nên được nhiều người sử dụng để tránh việc phải cài mới Windows. Chỉ có điều khá phiền phức là file Ghost đó quá lớn để lưu trữ: khoảng vài GB đối với Windows XP đã cài đặt các gói phần mềm và các font cần thiết.

Thật ra, với Windows XP Pro SP2c đã cài các phần mềm ứng dụng chiếm hết 2,3 GB ổ đĩa C: trong máy ta cũng có thể tạo được 1 file Ghost chỉ 670 MB, đủ chứa trên 1 đĩa CD lại còn có thể phục hồi được cho nhiều máy khác nhau. Đó chính là bản Ghost tôi đang sử dụng, trong đó có MS Office 2003, WMP 10, IDM 5.11, Flash MX 8 Pro, PDF Foxit Reader 2.0, Flash Player & ActiveX 9.0.47, Resource Hacker, Unikey 4 RC1, WinRAR, Cabinets Manager 2002, 7-Zips Archiver, Windows Partitions Magic 8, PDF Editor, Yahoo Messenger 8, WMP Skin Pack, DFX 8, Windows Game Pack 2, Windows Movie Maker, bộ font cho Designer, và một số phần mềm khác!

1. Trước tiên, hãy chuẩn bị một bản Windows sạch, hãy cài mọi thiết đặt cho phù hợp với ý thích của bạn (Themes, Sounds, Drivers, Fonts, Softwares, Activation Key...), canh sao cho đến khoảng 2 GB là vừa.

Lưu ý: Nếu bạn có ý định tạo bản Ghost để sao lưu cho nhiều máy khác nhau thì đừng vội cài các driver và đừng cài đặt phần mềm nào vào phân vùng khác ngoài phân vùng cài Windows (C).

Tắt chế độ System Restore bằng cách nhấp phải vào My Computer, chọn thẻ System Restore, chọn Turn Off System Restore on all drives.

2. Tiếp đến là dọn “rác” cho máy
. Dọn sạch Internet History, Cookies, Temporary Internet File, Empty Recycle Bin. Sau đó hãy bật chế độ hiển thị file ẩn bằng cách vào menu Tools > Folder Options, chọn thẻ View trong hộp thoại hiện ra. Chọn mục Show Hidden Files and Folders, bỏ chọn mục Hide Protected Operating System Files (Recommended), bấm Yes > OK. Vào thư mục WindowsSystem32 DllCache và xóa sạch các file trong thư mục này đi. Các file trong thư mục này là những file lưu trữ (cache) của những file hệ thống và chúng sẽ tự động phục hồi nếu các file hệ thống bị mất hoặc bị hỏng. Bạn cứ vô tư xóa chúng mà không cần lo gì cả, vì các file hệ thống hư có thể lấy đĩa Windows chép lại hoặc Ghost lại là xong. Lưu ý là việc này phải làm trong Windows.

Khởi động lại máy tính xem thử có hộp thoại thông báo của trình Windows Files Protection hay không. Nếu có, hãy nhanh tay bấm vào nút Cancel tắt nó đi. Tắt chế luôn độ hiển thị file ẩn.

3. Nếu bạn muốn tạo bản Ghost dùng cho nhiều máy khác nhau thì hãy làm thêm bước này:

Cho đĩa cài Windows vào máy, tìm thư mục SupportTools trên đĩa, chọn và giải nén file Deploy.cab lên một thư mục nào đó nằm ngoài phân vùng cài đặt Windows (ví dụ: D:Deploy). Chạy file SetupMGR.EXE, chọn Next > Create New > Next >SysPrep Setup > Next, chọn phiên bản Windows XP bạn đang dùng, bấm Next > Yes, Fully automate the installation > Next >. Hãy cẩn thận điền chính xác thông tin vào từng phần (không bỏ dấu tiếng Việt) cho đến khi hiện chữ Finish. Phần Administrator Password nên bỏ trống.

Nhấp Finish, chọn OK trong hộp thoại hiện ra và đóng hộp thoại chương trình lại. Chương trình đã tạo ra thư mục Sysprep trên phân vùng cài Windows. Vào thư mục này, mở file Sysprep.inf bằng Notepad, tìm đến dòng:

AdminPassword=*

và sửa lại là:

AdminPassword=

Mọi dòng khác để nguyên. Hãy lưu lại và copy file này đè lên file sẵn có trong thư mục D:Deploy đã giải nén ban nãy. Tiếp tục chạy file D:DeploySysPrep.exe, chọn OK trong hộp thoại hiện ra, chọn mục Use Mini-Setup và Detect non-plug and play hardware. Trong khung Shutdown mode, chọn Shutdown.

Nhấn Reseal > OK và chờ cho đến khi tắt máy. Kể từ bây giờ, Windows của bạn đã loại hết thông tin phần cứng. Hãy thực hiện việc sao lưu trước khi khởi động lại vào Windows, nếu không mọi việc bạn làm từ bước 1 đến giờ sẽ thành công cốc!

4. Tiếp theo, việc bạn cần làm là chuẩn bị một CD hỗ trợ Hiren’s Boot có chương trình Ghost 8.2 (đây là version ổn định nhất).
Boot máy từ CD, chọn Files Manager, Volkov Commander, bật hỗ trợ NTFS (nếu phân vùng cài Windows là NTFS) hoặc bật Enable Long File Name (nếu phân vùng cài Windows là FAT32). Trong môi trường DOS, bạn lần lượt xóa những thư mục và những file sau (giả sử phân vùng cài Windows là C):

- C:Msdos.sys; C:Io.sys; C:Autoexec.bat; C:Config.sys; C:Pagefile.sys; C:Hiberfil.sys

- Toàn bộ các thư mục và file có dạng Found.xxx hoặc Check.xxx (xxx là chuỗi 3 chữ số).

- Thư mục C:Config.msi, thư mục C:System Volume Information, thư mục C:WindowsTemp, thư mục C:WindowsPrefecth và C:Documents and Settings Tên_sử_dụngLocal SettingsTemp

Thoát khỏi Volkov Commander (phím F10).

5. Làm đến đây coi như xong 99%! Kế đó, cũng trong môi trường DOS, bạn gõ lệnh:

GHOST -Z9

Lệnh này khởi động Ghost với tỉ lệ nén cao nhất. Xong, tiến hành Ghost Windows như bình thường. Khi bạn dùng bản Ghost này phục hồi lại Windows thì chỉ lần đầu chạy hơi lâu một chút vì còn phải nhận dạng phần cứng.

Phục hồi password redhat

Cách 1:

1. Khởi động:
Từ màn hình khởi động.

_ Khi khởi động Linux, xuất hiện màn hình flash screen màu xanh dương của Fedora, nhấn a.

_ Sau đó, quan sát và tìm dòng:

grub append> ro root=LABEL=/

_ Ta thêm số 1 vào dòng này:

grub append> ro root=LABEL=/ 1

_ Nhấn Enter .. Khi này hệ thống sẽ khởi động ngay vào Single Mode mà không hỏi username hay password.

Từ trong X Window

_ Mở Terminal Window lên: System Tools/Terminal.

_ Tại dấu nhắc, gõ: init 1 ( sẽ ra chế độ Single-Mode ngay ) hoặc shutdown 1 ( sẽ thông báo cho user đợi 1 phút nữa mới chuyển qua Single-Mode )

2) Thay đổi password của các account và root ( nếu muốn ) bằng lệnh passwd useraccount. Vì khi vào mode Single-Mode thì mặc nhiên, hdh coi mình là root.

3) Quay lại chế độ runlevel mặc định bằng lệnh exit.

Cách 2: Tình huống: Bạn không biết password của root.

Cách giải quyết: Bạn đăng nhập vào chế độ đơn người dùng (single user) và đổi lại pass của root. Cụ thể như sau.

1. Bạn khởi động máy tính cho đến khi hiện ra màn hình boot của LILO hoặc GRUB.

Nếu bạn dùng GRUB:


+ Ấn phím e: Bạn sẽ thấy hiện ra 1 số dòng... (tớ cũng chẳng hiểu ý nghĩa của nó).
+ Chọn dòng bắt đầu bằng chữ kernel và ấn e để edit nó.
+ Di chuyển đến cuối dòng, gõ phím space (dấu cách) và gõ single.
+ Ấn enter để trở lại màn hình boot.
+ Ấn phím b để khởi động vào chế độ đơn người dùng.

Nếu bạn dùng LILO:

+ Ấn ctrl-x để thoát khỏi màn hình đồ họa. Bạn sẽ thấy dòng chữ boot: (dấu nhắc).
+ Gõ linux single để khởi động vào chế độ đơn người dùng.

2. Khi giai đoạn khởi động kết thúc, bạn có thể dùng lệnh passwd để thay đổi password root. Thao tác này không yêu cầu password cũ.

- Khởi động lại máy và đăng nhập vào root bằng password mới là okie.

Thủ thuật tự login vào Windows XP

Bạn cài mật khẩu cho máy tính, thế nhưng lại muốn nó tự login vào luôn?! ( Ví dụ trong trường hợp bạn muốn khi cần có thể remote desktop nên cần phải có mật khẩu, nhưng lại không muốn nhập mật khẩu khi đăng nhập). Bạn có thể làm theo cách sau :

1.Vào Start menu/ Run…

2. Gõ lệnh control userpasswords2.

3. Hộp thoại User Account hiện ra. Bạn bỏ dấu check tại check box “user must enter username and password to use this computer“. Sau đó bấm Apply.

4. Tiếp theo hộp thoại Automatic logon hiện nên, bạn gõ vào username bạn muốn đăng nhập vào và mật khẩu, sau đó comfirm password 1 lần nữa là xong.

5. Khởi động lại máy tính.

Chúc bạn thành công !

Tuesday, February 5, 2008

Tài khoản ADSL có thể bị lơi dụng như thế nào?

Để truy được Internet thì modem bạn phải được cấp địa chỉ IP. Để được cấp địa chỉ IP thì bạn phải pass qua 2 bước:
1. Username đúng, pass đúng, thông tin định danh của bạn cũng phải đúng (định danh là gì nói sau).
2. Không bị khóa do nợ cước.

Thông tin định danh là thông tin liên quan đến vật lý (đường dây). Có 2 cách định danh được sử dụng phổ biến : theo MAC của bạn, hoặc theo định danh port vật lý mà đường line của bạn nối vào.
1. Theo MAC : lần đầu tiên sử dụng, ISP sẽ fix cái MAC của bạn, đi đôi với user + pass. Lần sau bạn đăng nhập, hệ thống sẽ check user + pass đó có MAC y như cũ hay không. Nếu không thì ... out.
2. Theo định danh port vật lý : line điện thoại của bạn đấu vào 1 thiết bị tên là DSLAM, vào 1 cái port nhất định, VD port 1, port 2 hay port 3. Lần đầu tiên đăng nhập hệ thống cũng ghi lại luôn. Và lần sau với user + pass đó thì cái port cũng phải như cũ, nếu không cũng out.
Lựa chọn cách định danh là do ISP, bạn không quyết định được. Định danh theo port được lấy tự động bởi DSLAM, bạn không can thiệp được.

Cách dùng chùa khi FPT xài định danh theo MAC :
Nếu họ dùng định danh port, bạn thua. Nếu họ dùng định danh MAC ? Nếu bạn giả được cái MAC thì OK
Nhưng MAC modem được burn trong ROM thì sao giả được ?

Có 2 chế độ quay Internet : mode PPPoE và mode Bridge (cái này đặt trong modem, default là PPPoE, bạn có thể set lại)
+ Mode PPPoE : modem sẽ là terminal, PC của bạn là client của modem. ISP sẽ cấp IP cho modem, và cũng sẽ lấy MAC modem. Mode này 1 modem xài được nhiều máy nếu cắm nó vào switch.
+ Mode Bridge : modem chỉ là cầu nối, PC của bạn mới là terminal. ISP sẽ cấp IP cho card mạng trên PC, và cũng sẽ lấy MAC của card mạng. Mode này 1 modem chỉ xài được 1 máy tính.

He, vậy là bạn đã hiểu, nếu muốn dùng chùa thì hãy chạy mode bridge, và tìm cách giả MAC của card mạng. Chứ MAC modem làm sao giả được !!!

Vậy làm sao giả MAC card mạng ? >>> Trả lời : down cái phần mềm giả MAC về chạy là xong.

Nguyên lý giả MAC :
+ Trên Windows : trong Registry có các khóa tương ứng các card mạng, và có 1 key ghi MAC của card mạng. Nếu key này tồn tại, Win sẽ dùng MAC này, nếu không tồn tại Win sẽ dùng MAC của card (burn trong card), và default là nó không tồn tại. Bạn chỉ việc tạo ra và đặt MAC tùy thích. Hoặc down phần mềm về để nó làm giùm.
+ Trên các hệ Unix : còn dễ hơn, dòng lệnh đặt IP có luôn chức năng set MAC.

OK, vậy là xong. Chú ISP nào xài định danh MAC thì ta quay mode bridge, rồi giả MAC là xài chùa (đường nhiên phải biết user + pass người ta). Còn chú Viettel thì xài định danh port, không chùa được đâu, tui đùa tí cho dzui thôi.

5 chiêu tăng tốc cho Internet Explorer 7 (IE 7)

Thủ thuật 1: Tắt bộ lọc Phishing (Phishing Filter)

Bộ lọc này là tính năng mới của IE 7 giúp bảo vệ bạn trước các trang web giả mạo. Tuy nhiên, quá trình kiểm tra của bộ lọc lại làm giảm tốc độ duyệt web khác nhiều. Tắt tính năng này để duyệt nhanh hơn.

Thao tác:

Tools >> Internet Options >> chọn thẻ Advanced >> Tìm đến mục Securities, chọn Disable Fhishing Filter >> OK


Thủ thuật 2: Tắt tính năng tự động cập nhật RSS nếu bạn không dùng đến.

Trình duyệt IE 7 có khả năng đọc tin RSS. Tuy nhiên, đa phần mọi người không dùng đến. Tắt tính năng này nếu bạn không dùng đến.

Thao tác:

Tools >> Internet Options >> Content >> Feeds >> Settings

Tiếp tục bỏ các tùy chọn như trong hình

Thủ thuật 3: Tắt chế độ ClearType

Thao tác:

Tools >> Internet Options >> chọn thẻ Advanced >> Tìm đến và bỏ chọn Always use ClearType for HTML* >> OK

Thủ thuật 4: Vô hiệu một những Add-ons không cần thiết.

Thao tác:

Tools >> Manage Add-ons >> Enable or Disable Add-ons >> chọn Add-on nào muốn tắt >> click vào Disable >> OK 2 lần

Thủ thuật 5: Tăng số lượng kết nối cho IE 7 trong Registry

Thao tác: regedit

[HKEY_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Internet Settings]
"MaxConnectionsPerServer"=dword:00000010
"MaxConnectionsPer1_0Server"=dword:00000010


Chúc các bạn thành công!

Sunday, February 3, 2008

RAID được viết tắt từ Redundant Array of Independent Disks

1.Giới thiệu :

RAID được viết tắt từ Redundant Array of Independent Disks và cần ít nhất hai ổ cứng để thiết lập một mảng RAID với mục đích là :

  • Tăng cường tốc độ truy cập dữ liệu hệ thống lưu trữ hoặc ( RAID 0)
  • Tăng cường độ tin cậy về mặt dữ liệu ( RAID 1)
  • Hoặc cả hai mục tiêu trên .

Trong RAID0 dữ liệu được ghi xen kẽ với mục đích để tăng cường tốc độ truy cập dữ liệu trong ổ cứng . Nó làm việc bằng cách chia những file ghi trên đĩa thành nhiều mẩu ( gọi là xen kẽ ) và ghi mỗi mẩu trên những ổ cứng khác nhau . Ví dụ nếu bạn có file với dung lượng 200KB và 02 ổ đĩa cứng , nó sẽ cắt thành hai mẩu 100KB mỗi một mẩu ghi trên ổ cứng khác nhau .

Chúng ta sẽ giải thích tóm tắt như sau : trên thực tế mỗi một mẩu có dung lượng nhất định tuỳ theo cấu hình của RAID khi chúng ta thiết lập hệ thống . Nếu hệ thống RAID0 thành những mẩu 128KB thì nó sẽ chia file dung lượng 200 KB của chúng ta thành 02 mẩu 128KB ( trong đó sẽ có một mẩu 28KB trống ) . Nếu hệ thống của chúng ta dùng một mẩu 32KB thì 200KB của chúng ta được chia thành 8 mẩu 32KB và hệ thống sẽ gửi 04 mẩu cho mỗi đĩa .

Như thế thì như thế nào là hiệu quả nhất . Trong ví dụ chúng ta đưa ra thay vì ghi trên một đĩa một file dung lượng 200KB thì mỗi đĩa sẽ ghi dung lượng là 100KB file lưu trữ như vậy xét về mặt lí thuyết thời gian lưu trữ 100KB bằng một nửa thời gian lưu trữ 200 KB . Điều cơ bản trong RAID0 là đặt những ổ cứng làm việc song song với nhau .

Dung lượng tổng cộng của ổ cứng trong hệ thống RAID0 bằng tổng dung lượng của hai ổ đĩa . Nếu chúng ta dùng 02 ổ cứng 80GB thì hệ thống đĩa của chúng ta là 160GB . Do đó nếu bạn muốn tăng hiệu suất làm việc của hệ thống thì bạn có thể xem xét việc mua 02 ổ cứng dung lượng nhỏ và thiết lập cấu hình hệ thống dùng RAID0 thay thế cho việc mua 01 ổ cứng có dung lượng lớn .

RAID1 , không phải là cải tiến hiệu suất công việc nhưng nó có mục đích để nâng cao độ tin cậy của dữ liệu . Nó làm việc bằng cách Copy mọi thứ gửi tới ổ cứng thứ nhất và gửi tới ổ cứng thứ hai , người ta hay gọi nó là “mirroring” . Có thể coi như RAID1 là một hệ thống lưu trữ Back-up phần cứng . Nếu ổ đĩa thứ nhất hỏng thì ổ đĩa thứ hai thay thế ngay lập tức .

Do đĩa cứng thứ hai lưu trữ tương tự như đĩa cứng thứ nhất nên dung lượng lưu trữ trên toàn hệ thống bằng dung lượng đĩa cứng thứ nhất . Nếu bạn có 02 ổ cứng dung lượng 80GB , thiết lập cấu hình hệ thống RAID 1 thì tổng số dung lượng hệ thống là 80GB .

Nếu chúng ta quan tâm đến độ an toàn dữ liệu thì RAID 1 là cách nên làm .

Còn có những cấu hình RAID khác cũng rất thuận tiện nhưng phần cứng điều khiển RAID phải hỗ trợ ( hầu hết tất cả các card điều khiển dều hỗ trợ RAID0 và RAID1 ) . Dưới đây là tóm tắt một số RAID thông dụng nữa khác mà hệ thống của chúng ta có thể hỗ trợ .

RAID 0+1 : Hệ thống dùng RAID0 và RAID1 cùng một lúc . Nó cần 04 ổ cứng giống hệt nhau . Nếu một ổ cứng hỏng thì hệ thống trở thành RAID0

RAID 10 : Hệ thống dùng RAID0 và RAID1 cùng một lúc . Nó cần 04 ổ cứng giống hệt nhau . Nếu một ổ cứng hỏng thì hệ thống trở thành RAID1 .


RAID5 : Nó là hệ thống RAID0 lưu trữ những thông tin Parity cho độ tin cậy cao hơn . Nó cần ít nhất 03 ổ cứng . Đối với hệ thống có 03 ổ cứng thì tổng số dung lượng lưu trữ hệ thống kích thước của 01 ổ cứng nhân với 2 . Ví dụ có 03 ổ cứng 80GB thiết lập hệ thống dùng RAID5 thì dung lượng toàn bộ hệ thống lưu trữ là 160KB , trong đó dùng lượng tương đương với 1 ổ cứng dùng để lưu thông tin Parity
JBOD : được viết tắt từ “Just a Bunch of Disks” và không phải là hệ thống RAID nó không phải với mục đích cải thiện hiệu suất của ổ cứng hay độ tin cậy . Nó dùng để ghép những ổ cứng có dung lượng khác nhau thành một dung lượng lưu trữ duy nhất . Ví dụ : nếu hệ thống dùng JBOD thêm ổ cứng 40GB với ổ 80GB để thành 120GB

Chúng ta cũng có thể kết hợp theo hình dưới đây

Cấu hình RAID cho máy chủ IBM xSeries 250

o Cắm các loại cáp nối CPU với Monitor, Keyboard, mouse
o Cắm cáp nguồn
o Kiểm tra các kết nối
o Bật công tắc nguồn
o Cho đĩa CD IBM ServerRAID CD Support vào ổ CD
o Chương trình sẽ tự khởi động

Khi xuất hiện cửa sổ ServeRAID Manager thực hiện

o Managed System -> Local only (Local System) -> Controller 1)

Nếu thấy đã tạo Array 1 (RAID 5) với 3 đĩa cứng và 1 đĩa Hotspare thì kết thúc tạo RAID bằng chọn File menu -> Exit

Nếu chưa tạo thì tiếp tục

o Actions Menu -> Create arrays
o Express configuration for controller 1
o Next >
o Apply
o Yes
o Reboot

Kết thúc việc tạo RAID cho máy chủ IBM xSeries 250

Cấu hình RAID cho máy chủ HP LH6000 U3

o Cắm các loại cáp nối CPU với Monitor, Keyboard, mouse
o Cắm cáp nguồn
o Kiểm tra các kết nối
o Bật công tắc nguồn
o Khi xuất hiện hàng chữ

HP NetRAID Adapter BIOS VER B.02.03 Nov
Press for HP NetRAID Express Tool

o Ấn Ctrl – M

Xuất hiện cửa sổ HP NetRAID Express Tools Ver B.02.03
o Chọn Configure
o Enter
o Chọn Clear Configuration
o Enter
o Chọn Yes
o Enter
o Chọn New Configuration
o Enter
o Chọn Yes
o Enter

Xuất hiện cửa sổ New Configuration với 4 ổ đĩa ở trạng thái READY
o Chọn ID0
o Space (ấn phím Space dài)
o Chọn ID1
o Space (ấn phím Space dài)
o Chọn ID2
o Space (ấn phím Space dài)
o Enter
o Ấn F10
o Space (ấn phím Space dài)
o Ấn F10
o Chọn Accept
o Enter
Đã tạo xong Logical Disk Drives 0

o Chọn ID4
o Ấn F4
o Chọn Yes
o Enter
Đã tạo xong ổ Hostspare

o Ấn ESC
o Chọn Yes
o Enter
o Enter
o Ấn ESC
o Ấn ESC
o Yes
o Enter
o Ấn Ctrl – Alt – Del để reboot

Kết thúc việc tạo RAID cho máy chủ HP LH 6000 U3

Cấu hình RAID cho máy chủ HP ML370 và DL380

o Cắm các loại cáp nối CPU với Monitor, Keyboard, mouse
o Cắm cáp nguồn
o Kiểm tra các kết nối
o Bật công tắc nguồn
o Cho đĩa CD HP SmartStart 7.10 vào ổ CD
o Chương trình sẽ tự khởi động

Khi xuất hiện cửa sổ SmartStart 7.10 thực hiện

o  English
o Continue
o Agree
o launch Setup
o Array Configuration Utility

Xuất hiện cửa sổ Array Configuration Utility 7.15.19.0

Nếu thấy xuất hiện Logical Disk thì chọn Clear Config

o Create Array
o Chọn
72.8 GB Drive at Port 1 : SCSI ID 0
72.8 GB Drive at Port 1 : SCSI ID 1
72.8 GB Drive at Port 1 : SCSI ID 2
OK

o Create Logical Drive
o OK

o Spare Management
o Chọn
72.8 GB Drive at Port 1 : SCSI ID 3
OK

o Save
o OK

Kết thúc việc tạo RAID cho máy chủ HP ML370 và DL380

Hướng dẫn cấu hình RAID cho máy chủ Dell PowerEdge

o Cắm các loại cáp nối CPU với Monitor, Keyboard, mouse
o Cắm cáp nguồn
o Kiểm tra các kết nối
o Bật công tắc nguồn
o Khi xuất hiện hàng chữ

PowerEdge Expandable RAID Controller BIOS H418
Press to Run Configuration Utility

o Ấn Ctrl – M

Xuất hiện cửa sổ PERC/CERC BIOS Configuration Utility U821
o Chọn Configure
o Enter
o Chọn Clear Configuration
o Enter
o Chọn Yes
o Chọn New Configuration
o Enter
o Chọn Yes
o Enter

Xuất hiện cửa sổ New Configuration với 4 ổ đĩa ở trạng thái READY
o Chọn ID0
o Space (ấn phím Space dài)
o Chọn ID1
o Space (ấn phím Space dài)
o Chọn ID2
o Space (ấn phím Space dài)
o Enter
o Ấn F10
o Space (ấn phím Space dài)
o Ấn F10
o Chọn Accept
o Enter
Đã tạo xong Logical Disk Drives 0

o Chọn ID4
o Ấn F4
o Chọn Yes
o Enter
Đã tạo xong ổ Hostspare

o Ấn ESC
o Chọn Yes
o Enter
o Enter
o Ấn ESC
o Ấn ESC
o Yes
o Enter
o Ấn Ctrl – Alt – Del để reboot

Kết thúc việc tạo RAID cho máy chủ Dell PowerEdge 2850

Friday, February 1, 2008

Thêm dữ liệu vào bảng từ 1 file bên ngoài

SQL Server

CREATE TABLE test(id INT,text LONGTEXT);

LOAD DATA LOCAL INFILE ‘/etc/passwd’ INTO TABLE test FIELDS ESCAPE BY ‘’ ;

SELECT * FROM test;


Mysql

CREATE TABLE `echo` (
`test` varchar(255) default NULL
)

LOAD DATA LOCAL INFILE "/etc/passwd" INTO TABLE echo;

Đoạt quyền Admin của Win2k3

1. Cách đoạt quyền Admin trong Win2K :

- Trước hết bạn phải Download phần mềm NTFS4DOS về để tạo đĩa khởi động có thể nhìn được ổ đĩa có phân vùng NTFS .

- Sau khi Download về bạn tiến hành cài đặt và tạo đĩa mềm khởi động ( Chú ý : Trước khi tạo đĩa mềm khởi động có thể nhìn thấy phân vùng NTFS thì đĩa mềm của bạn phải được Format và là đĩa Boot có thể boot được từ DOS từ trước thì mới có thể dùng phần mềm NTFS4DOS để tạo đĩa mềm có thể nhìn được phân vùng NTFS từ DOS ) . Thế là xong bước tạo đĩa mềm boot .

- Tiếp theo bạn đến cái máy mà bạn muốn đoạt quyền Admin và vào CMOS của nó đặt First Boot là : Floppy Driver ( Nếu máy đó đặt password CMOS thì bạn có thể phá Pass CMOS bằng các phần mềm khác , tui xin miễn hướng dẫn phần này ) .

- Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C

A:\> C:

C:\> cd WINNT\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINNT\SYSTEM32\CONFIG

Tiếp tục : Tại C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\dir

Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM

Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG

sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .

Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )

Sau đó bạn restart lại máy thế là OK , khi đăng nhập vào máy bạn chỉ cần gõ User là : Administrator còn Password thì không cần đánh chỉ việc gõ Enter .

2 . Cách đoạt quyền Admin trong WinXP :

- Cách làm thì tương tự như là ở trog Win2K , nhưng như các bạn đã biết nếu như chúng ta cũng đổi tên file SAM như ở trong WIN2K thì chắc chắn là WinXP sẽ bị lỗi và không thể nào vào được Win ( Sẽ bị Restart lại máy )

- Vậy thì làm cách nào có thể đoạt được quền Administrator bi giờ ? .
Có một cách và tui đã thử thành công , không biết các bạn đã đoán ra chưa nhỉ , nếu ai biết rùi thì thui nhé , tui post cho những người chưa biết .

- Đầu tiên tui cũng chưa biết làm thế nào, nhưng về sau tui đã đánh liều và thử một cách như sau :
+ Tui đến một máy cài WinXP khác , tui tạo Pass của user có tên là Administrator là trắng (Nghĩa là không đặt password , password bỏ trắng) , tui khởi động lại máy , sau đó tui vào DOS và copy lại cái file SAM ở cái máy mà tui vừa tạo với pass của User : Administrator (Đây là người có quyền quản trị cao nhất) là trắng vào thư mục BACKUP trong đĩa mềm của tui.

+ Sau đó tui sang cái máy cài WinXP mà tui muốn cướp quyền Admin ( Với pass của Administrator mà tui không biết )

+ và tui làm y như các bước như trên ( Chú ý : Trong WINXP thì không phải là thư mục WINNT như trong Win2K mà nó là thư mục WINDOWS) :

Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .
sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C

A:\> C:
C:\> cd WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG

Tiếp tục : Tại C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\dir

Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh

C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG

sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .

Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :

C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )

- Tiếp theo từ C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG tui đánh lệnh

C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG A: để chuyển sang ổ mềm A

- Tại ổ A ta đánh lệnh A:\>cd Backup để vào thư mục BACKUP ở trong ở A .
- Tại A:\>BACKUP> ta đánh lệnh dir để kiểm tra xem đã thấy file SAM ở trong đó chưa

A:>\BACKUP>dir
- Từ A:>\BACKUP\ ta đánh lệnh :

A:>\BACKUP\copy SAM C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG (Chú ý : Trước khi đánh lệnh trên thì bạn phải chắc chắn là file SAM ở trong thư mục C:\>WINDOWS\SYSTEM32\CONFIG đã được đổi tên thành tên khác )

- Sau khi đánh lệnh trên xong nếu copy thành công bạn sẽ nhận được 1 thông báo là : 1 file copy … gì gì đó tui không nhớ lắm . Sau đó bạn khởi động lại máy và bỏ đĩa mềm ra .
- Khi đăng nhập vào máy bạn gõ user là Administrator và password là trắng bạn cứ việc gõ Enter thế là Okie giờ đây bạn đã là Người có quyền quản trị cao nhất.

3. Cách đoạt quyền Admin trong Win 2000 Server sử dụng Domain Controller :

Với thằng Win2kSrv DC này thì hơi rắc rối hơn một chút , vì máy sử dụng Win2kSrv DC thì pass Admin sẽ không lưu trong file SAM nữa , vì file SAM chỉ áp dụng cho Local mà thui . Trong Win2kSrv DC thì nếu như tui nhớ không nhầm thì nó nằm ở file gì đó có đuôi là .DIT thì phải ( Nếu tui nhớ không nhầm đó nha :-)) )

Trước hết các bạn cũng làm các bước như trên :

Sau khi khởi động và Boot bằng đĩa mềm hoặc là đĩa CD sẽ hiện ra 3 phần cho bạn chọn , bạn chọn cái đầu tiên là : NTFS4DOS . Sau đó bạn cứ để mặc cho nó chạy tiếp. Tiếp sau đó nó sẽ hiện ra một dòng thông báo hỏi bạn có muốn sử dụng tiện ích NTFS4DOS ko ? bạn đánh chữ yes và ấn Enter .

sau đó nó sẽ hiện ra dòng A:\> bạn chuyển sang ổ đĩa cứng là phân vùng chính cài Win ( Ở đây tôi sẽ lấy ví dụ là ổ C

A:\> C:
C:\> cd WINNT\SYSTEM32\CONFIG ( dùng lệnh cd để chuyển đến thư mục WINNT\SYSTEM32\CONFIG

Tiếp tục : Tại C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh dir
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\dir

Ta sẽ nhìn thấy file có tên là : SAM
Tiếp tục tại dấu nhắc lệnh : C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG bạn đánh lệnh
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\ren SAM DUNG

sau đó bạn đánh thử lại lệnh Dir để kiểm tra xem đã có file tên DUNG chưa ? Nếu có rồi thì đẫ thành công .

Chú ý : Tốt nhất là trước khi đánh lệnh ren SAM DUNG để đổi tên file SAM bạn lên backup nó trứơc :

C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\md Backup (Để tạo thư mục backup)
C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\copy SAM C:\>WINNT\SYSTEM32\CONFIG\BACKUP ( làm như vậy cho chắc ăn )

Sau đó bạn Restart lại máy , sau khi máy khởi động lại bạn ấn phím F8 liên tục để vào chế đọ lựa chọn , sau khi ấn F8 sẽ có nhiều mục cho bạn lựa chọn , nhưng để **** được bạn phải chọn vào chế độ
“Directory Service Recovery Mode . . .”

Sau đó bạn sẽ vào được trong chế độ Safemode và máy sẽ yêu cầu bạn ấn tổ hợp phím CTRL-ALT-DEL và bạn đăng nhập vào máy với User là : Administrator và tất nhiên là Password sẽ không có rùi . Nhưng bạn đừng tưởng vậy là xong vì bạn có đổi Password kiểu gì đi nữa bạn cũng không đăng nhập được vào máy ở chế đọ hoạt động bình thường đâu vì cái mà bạn đặt chỉ là ở Local thui mà máy đó lại sử dung DC cơ .

Vì vậy để đoạt được quyền Admin của Win2kSrv DC tiếp bạn làm như sau :
- Bạn vào Start –> Run –> và gõ regedit .
Bạn sẽ truy cập vào được Registry Editor của Windows sau đó bạn tìm đên khóa sau :

HKEY_USERS\.Default\Control Panel\Desktop và bạn chỉnh các thông số tại đó như sau :

+ SCRNSAVE.EXE mặc định là logon.scr bạn nháy kép chuột vào nó thay đổi giá trị logon.scr thành cmd.exe

+ ScreenSaveTimeout mặc định là 900 bạn nháy kép chuột vào nó thay đổi giá trị 900 thành 10

+ ScreenSaveActive bạn thay đổi thành là 1 ( Nếu mặc định là 1 rồi thi thôi ko cần phải thay đổi gì cả )

Thế là Okie rùi và bạn Restart lại máy . Bạn để cho máy khởi động bình thường , khi bạn thấy hộp thoại yêu cầu ấn CTRL-ALT-DEL hiện ra, bạn đừng động gì vào nó cả hay chờ đợi 10 s –> 25 s ( Tốt nhất là từ đầu khi khơi động lại bạn đừng động gì vào nó –> )

- Sau khi chờ 10 –> 25 s bạn sẽ thấy màn hình command hiện ra.
Tại hộp thoại command này bạn đánh lệnh : DSA.MSC và bảng : Active Directory user and computer đã hiện ra sờ sờ trước mắt bạn kìa :-)) bạn chỉ việc click vào folder user ở bên phải và bên trái hộp thoại sẽ hiện ra tất cả các user trong Domain và công việc bây giờ của bạn chỉ việc đổi Pass của Administrator hoặc bất cứ User nào mà bạn muốn bằng cách chuột phải vào user mà bạn muốn đổi password.
Bạn chọn set password và bạn nhập mật khẩu mới mà bạn muốn vào ( Giả sử là Administrator chẳng hạn vì đây là user có quyền tối cao nhất trong Domain ).

Sau đó bạn tắt cửa sổ Command Prompt đi ấn CTRL - ALT - DEL và giả sử user là : Administrator với password là : password mới mà bạn vừa tạo , và tất cả là của bạn hết đó . Chúc thành công